Thứ Ba, 3 tháng 9, 2024

Bảo Hộ Công Nghiệp Cần Đi Đôi Với Chính Sách Nhập Cư

Nguồn: Industrial Policy Needs an Immigration Policy | Devesh Kapur và Milan Vaishnav | 22 Aug 2024 | Foreign Affairs

Tại sao việc đưa việc làm trở lại Hoa Kỳ đòi hỏi phải cho phép nhiều lao động nước ngoài nhập cư hơn.

Thợ hàn tại một nhà máy ở Columbus, Ohio, tháng 3 năm 2024 | Carlos Barria - Reuters

Khi cuộc đối đầu giữa cựu Tổng thống Donald Trump và Phó Tổng thống Kamala Harris đang đến gần, Hoa Kỳ đang ngập tràn trong sự hận thù đảng phái, với các ứng cử viên và những người ủng hộ họ đấu tranh gay gắt về phá thai, bức tường chống nhập cư lậu ở biên giới phía nam, thuế, chăm sóc sức khỏe, v.v. Tuy nhiên, mặc dù đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa khác xa nhau về hầu hết các vấn đề chính sách, nhưng họ vẫn có chung một niềm tin  vào công cụ cụ thể trong quản lý kinh tế: chính sách bảo hộ công nghiệp.

Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, Trump đã ủng hộ việc áp thuế đối với hàng tỷ đô la hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ để tạo cơ hội cho ngành sản xuất nội địa. Tổng thống Joe Biden, tập trung vào việc siết chặt lợi thế thương mại của Trung Quốc, đã tiếp tục duy trì các mức thuế đó. Ông cũng đã dành ba năm rưỡi qua để đưa ra "Bidenomics" - một loạt các chính sách "công nghiệp và đổi mới" phá vỡ tính chính thống của thị trường tự do. Harris đã đưa ra nhiều dấu hiệu cho thấy bà sẽ tiếp tục cách tiếp cận này. Bất kể ai giành chiến thắng tại Nhà Trắng vào tháng 11 sắp tới, ý tưởng rằng nhà nước cần phải có hành động mạnh mẽ hơn để định hướng thị trường vẫn sẽ tồn tại.

Nhưng chính sách bảo hộ công nghiệp thế kỷ 21 này khó có thể thành công trừ khi các nhà hoạch định chính sách kết hợp nó với chính sách nhập cư thế kỷ 21. Hoa Kỳ có những kế hoạch đầy tham vọng nhằm tăng cường khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài ở các lĩnh vực quan trọng và cạnh tranh với Trung Quốc về các lĩnh vực công nghệ mới nổi. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đáng cổ vũ này trong một khung thời gian giới hạn sẽ đòi hỏi những nhân tài có trình độ cao, chuyên sâu hiện đang thiếu hụt trong lực lượng lao động của Hoa Kỳ. Nếu không có chính sách nhập cư linh hoạt và thích ứng hơn, ngay cả những kế hoạch được vạch ra tốt nhất của Hoa Kỳ cũng sẽ bị mắc kẹt. Như nhà kinh tế chính trị Robert Wade đã tiên đoán cách đây hơn hai thập kỷ, "Chính sách nhập cư là biên giới mới của chính sách công nghiệp".

ĐỒNG THUẬN MỚI CỦA WASHINGTON

Chính sách bảo hộ công nghiệp—việc sử dụng các chính sách chủ động của chính phủ nhắm vào các lĩnh vực, ngành công nghiệp, công ty và công nghệ cụ thể để đạt được một số mục tiêu kinh tế hoặc chiến lược mà thị trường không thể đạt được—không phải là điều mới mẻ ở Hoa Kỳ. Alexander Hamilton, bộ trưởng tài chính đầu tiên, là người ủng hộ mạnh mẽ việc sử dụng quyền lực của nhà nước để kích thích đầu tư. Vào những năm 1920, Bộ trưởng Thương mại Herbert Hoover đã tận dụng quyền lực của chính phủ liên bang để chuẩn hóa một loạt các kích thước sản phẩm, từ vật liệu xây dựng đến dụng cụ cầm tay và ổ cắm điện. Nhà sử học Colleen Dunlavy đã lập luận rằng việc chuẩn hóa này có tác động lớn hơn đến việc mở rộng quy mô sản xuất của Hoa Kỳ so với mô hình sản xuất hàng loạt của Henry Ford. Ngày nay, chính sách bảo hộ công nghiệp có mặt ở khắp mọi nơi. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, vào năm 2023, các quốc gia đã ban hành 2.500 biện pháp can thiệp chính sách bảo hộ công nghiệp, trong đó 1.800 biện pháp được coi là "làm méo mó thương mại". Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu chịu trách nhiệm cho một nửa số chính sách làm méo mó hoạt động thương mại tự do đó.

Tuy nhiên, chính sách bảo hộ công nghiệp từ lâu đã bị coi là bị cấm ở Hoa Kỳ và các nền dân chủ công nghiệp hóa khác, những nền dân chủ thường rao giảng về tính chính thống của thị trường tự do cho cả công dân của họ và người dân các nước đang phát triển. Chính quyền Trump đã phá vỡ nguyên trạng bằng cách áp thuế đối với nhiều loại hàng nhập khẩu khác nhau, đặc biệt là hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Chính quyền Biden đã tiến thêm một bước nữa trong việc thúc đẩy chính sách bảo hộ công nghiệp bằng cách ban hành luật mới "Buy America” (Mua hàng Mỹ), Đạo luật CHIPS và Khoa học (the CHIPS and Science Act) , và Đạo luật Giảm lạm phát (the Inflation Reduction Act), chi hàng trăm tỷ đô la tiền công quỹ để thúc đẩy các công nghệ sản xuất tiên tiến, đặc biệt là sản xuất chất bán dẫn. Như Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan đã nói vào tháng 4 năm 2023, chiến lược của chính quyền Biden "xác định các lĩnh vực cụ thể là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, mang tính chiến lược từ góc độ an ninh quốc gia và nơi mà ngành công nghiệp tư nhân tự mình không sẵn sàng thực hiện các khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo tham vọng quốc gia của chúng ta".

Có hai động cơ nổi bật trong việc biện minh cho sự đồng thuận mới này. Đầu tiên là tham vọng của chính quyền Biden trong việc xây dựng một "chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dành cho tầng lớp trung lưu", dựa trên nhận thức rằng các công cụ truyền thống của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, chẳng hạn như thương mại tự do, đã mang lại lợi ích cho giới thượng lưu Hoa Kỳ trong khi không làm được gì nhiều cho—nếu không muốn nói là còn gây hại—hầu hết người Mỹ ở tầng lớp trung lưu.

Động cơ thứ hai liên quan đến tăng cường năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ và khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng. Những cú sốc đứt gãy chuỗi cung ứng giai đoạn đại dịch và tác động tiêu cực của chúng đối với lạm phát đã làm dấy lên nỗi lo lắng của các nhà hoạch định chính sách về sự phụ thuộc sâu sắc vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc trong các lĩnh vực đa dạng như tấm pin năng lượng mặt trời, đất hiếm và pin xe điện. Để ứng phó, chính quyền Biden đang thực hiện các khoản đầu tư mới đáng kể vào các lĩnh vực công nghệ cao để xây dựng năng lực của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực như năng lượng xanh và đã áp dụng các hạn chế về thương mại và đầu tư thông qua cách tiếp cận "sân nhỏ và hàng rào cao", hạn chế thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực mà lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kỳ đang bị đe dọa.

VẤN ĐỀ NHÂN LỰC

Khi cuộc bầu cử đang đến gần, sự "hạ cánh mềm" đáng chú ý của nền kinh tế Hoa Kỳ - phục hồi sau đại dịch COVID-19 được đánh dấu bằng lạm phát giảm, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bức tranh việc làm lành mạnh - hoàn toàn trái ngược với kinh nghiệm của các nước công nghiệp hóa khác. Các nhà kinh tế đã kết luận rằng chính sách nhập cư mạnh mẽ là công thức bí mật của Hoa Kỳ, góp phần vào tăng trưởng cao hơn dự kiến và giảm lạm phát nói chung kể từ giữa năm 2022. Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ đã dự đoán rằng từ năm 2024 đến năm 2034, với lực lượng lao động dồi dào, chủ yếu là do nhập cư tăng cao, GDP của Hoa Kỳ sẽ lớn hơn 7 nghìn tỷ đô la và doanh thu cao hơn 1 nghìn tỷ đô la so với khi không có sự gia tăng lực lượng lao động như vậy. Các hạn chế mới đối với nhập cư không chỉ gây tổn hại đến lợi ích của Hoa Kỳ mà còn tạo ra tình trạng thiếu hụt lao động và làm tăng tình trạng dồn ứ trong chuỗi cung ứng, giống như những gì đất nước đã trải qua trong đại dịch khi biên giới bị đóng cửa.

Ngay cả với dòng người nhập cư hiện tại, các doanh nghiệp Hoa Kỳ vẫn phải vật lộn với tình trạng thiếu hụt lao động dai dẳng. Vào tháng 6 năm 2024, có 8,1 triệu việc làm tại Hoa Kỳ và chỉ có 6,8 triệu người Mỹ thất nghiệp. Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ đã dự đoán rằng đến năm 2030, một phần năm người Mỹ sẽ ở độ tuổi trên 65, thách thức khả năng chi trả của An sinh Xã hội và gây ra những căng thẳng mới cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Hơn nữa, áp lực nhân khẩu học này sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến các lĩnh vực mà chính sách bảo hộ công nghiệp hiện đang tập trung. Ví dụ, Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ đã ước tính rằng Hoa Kỳ sẽ cần thêm một triệu lao động trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán) vào năm 2032 so với thập kỷ trước, thậm chí không tính đến những lao động sẽ nghỉ hưu trong khoảng thời gian đó.

Có hai lựa chọn rõ ràng cho bài toán này. Đầu tiên là nuôi dưỡng nguồn nhân lực trong nước, đòi hỏi phải tăng cường giáo dục phổ thông (K–12) và thúc đẩy các nhóm chưa hiện diện trong các lĩnh vực STEM. Chính sách công nghiệp mới thúc đẩy hàng tỷ đô la để giáo dục và đào tạo lại lực lượng lao động trong nước theo các chương trình như Kế hoạch bảo trợ của Hoa Kỳ, cung cấp 170 tỷ đô la tiền hỗ trợ học đường cho các trường công; sáng kiến hướng nghiệp Hoa Kỳ, tài trợ cho các quan hệ đối tác công tư để mở rộng cơ hội học nghề trong các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ thông tin, năng lượng sạch và chăm sóc sức khỏe; và Trung tâm nhân lực Hoa Kỳ, cung cấp đào tạo trong các lĩnh vực quan trọng như xây dựng và sản xuất chất bán dẫn tại chín thành phố, bao gồm Baltimore, Columbus, Milwaukee và Pittsburgh. Những khoản đầu tư mới này rất quan trọng, nhưng việc phát triển một thị trường lao động với sự kết hợp phù hợp các kỹ năng cho các lĩnh vực của thế kỷ 21 như trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và chất bán dẫn sẽ cần thời gian để có kết quả.

❝ Thu hút nhân tài nước ngoài là điều cần thiết để thúc đẩy sự đổi mới và thịnh vượng kinh tế.

Do đó, Hoa Kỳ cũng sẽ cần áp dụng một phương thức thứ hai đối với tình trạng thiếu hụt lao động: thu hút nhân tài toàn cầu. Về bề nổi, cách tiếp cận này có vẻ xung đột với mục tiêu cốt lõi của việc áp dụng lại chính sách bảo hộ công nghiệp: đưa sản xuất trở lại bằng cách tạo ra những công việc vững chắc, được trả lương cao tại quê nhà. Rốt cuộc, làm sao các chính sách được ban hành để "mang việc làm về quê nhà" có thể biện minh cho việc tăng số lượng cơ hội việc làm cho người lao động sinh ra ở nước ngoài?

Mối lo ngại về việc người nhập cư thay thế người lao động bản địa là điều tự nhiên, nhưng một công trình nghiên cứu thực nghiệm học thuật mới cho rằng nhập cư không phải là một trò chơi có tổng bằng không. Thứ nhất, những người lao động có kỹ năng cao sinh ra ở nước ngoài không nhất thiết phải có người thay thế sinh ra ở bản địa. Mặc dù các trường đại học Hoa Kỳ đã trao nhiều hơn 29% số bằng cử nhân về khoa học và kỹ thuật vào năm 2021 so với năm 2012, nhưng con số tổng thể vẫn tương đối khiêm tốn. Vào năm 2021, Hoa Kỳ đã đào tạo ra 812.000 sinh viên tốt nghiệp đại học chuyên ngành STEM - chỉ bằng một phần năm so với số 4,5 triệu sinh viên mà Trung Quốc và Ấn Độ cùng đào tạo trong năm đó. Kể từ năm 2019, Trung Quốc đã đào tạo nhiều tiến sĩ về khoa học và kỹ thuật nhất. Mặc dù chất lượng đào tạo tại Hoa Kỳ vượt trội đáng kể (một số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp STEM ở Trung Quốc và đặc biệt là Ấn Độ được đào tạo kém), nhưng vẫn chưa đủ. Thứ hai, sự sụt giảm số lượng lao động nước ngoài không nhất thiết có nghĩa là nhiều lao động bản địa được tuyển dụng hơn. Khi hạn ngạch thị thực cho lao động có tay nghề cao bị cắt giảm trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này (sau khi một đợt cho phép tăng tạm thời hết hạn), sự sụt giảm mạnh về lao động nước ngoài đã không được bù đắp lại bằng sự gia tăng tương ứng trong việc tuyển dụng lao động bản địa. Thay vào đó, sự sụt giảm mạnh về nguồn cung thị thực nhập cư có tay nghề cao có thể khiến các công ty đa quốc gia chỉ đơn giản là thuê lao động ở nước ngoài. Thứ ba, nhập cư cũng đã làm giảm giá tiêu dùng, tăng sản lượng của ngành công nghệ và thúc đẩy lợi nhuận của các công ty, góp phần tạo nên một nền kinh tế lớn hơn và sôi động hơn cho tất cả người Mỹ.

Thật khó để cường điệu hóa tầm quan trọng của việc thu hút và nuôi dưỡng tài năng sinh ra ở nước ngoài như một phương pháp thúc đẩy sự đổi mới và thịnh vượng kinh tế. 36% trong tổng số tất cả các giải Nobel được trao cho người Mỹ trong các lĩnh vực hóa học, y học và vật lý kể từ năm 1901 đến nay đến từ những người nhập cư. Những người nhập cư chiếm 16% trong số tất cả các nhà phát minh có trụ sở tại Hoa Kỳ và một phần tư tổng giá trị kinh tế được tạo ra bởi tất cả các bằng sáng chế được nộp trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2016 là từ các bằng sáng chế của người nhập cư.

Lợi thế của người nhập cư cũng mở rộng sang các lĩnh vực liên  quan đến  sự thịnh vượng kinh tế. Vào năm 2022, 55% các công ty khởi nghiệp tại Hoa Kỳ có giá trị hơn 1 tỷ đô la đã được thành lập bởi những người nhập cư, tổng cộng có 319 công ty với tổng giá trị là 1,2 nghìn tỷ đô la. Trong số các công ty công nghệ đã thành lập, 60% trong số 25 công ty hàng đầu được thành lập bởi những người nhập cư hoặc người Mỹ có ít nhất cha hoặc mẹ là người nhập cư; gần một nửa trong số các công ty Fortune 500 được thành lập bởi những người nhập cư hoặc con cái của họ.

CẤM VÀO

Hoa Kỳ có nguy cơ mất đi năng lực thu hút nhân tài vô song của mình. Mặc dù số lượng sinh viên quốc tế đã phục hồi sau cú sốc kép của chính quyền Trump và đại dịch, nhưng tỷ lệ sinh viên quốc tế của Hoa Kỳ trên toàn thế giới đã giảm từ 23% vào năm 2000 xuống còn 15% vào năm 2020. Duy trì lợi thế so sánh trong nhóm sinh viên du học quốc tế là điều cần thiết vì những sinh viên như vậy chiếm một phần đáng kể trong số nhân tài STEM của Hoa Kỳ. Trong năm 2022–23, hơn một nửa số sinh viên đại học quốc tế và hai phần ba sinh viên sau đại học quốc tế theo học tại các trường cao đẳng và đại học Hoa Kỳ đang theo học trong các lĩnh vực STEM. Trong số các tổ chức giáo dục đại học đang chứng kiến sự sụt giảm số lượng sinh viên quốc tế, ba phần tư xác định rào cản về thị thực là thủ phạm chính.

Nhưng việc thu hút những sinh viên quốc tế giỏi nhất sẽ chỉ có lợi nếu họ ở lại và làm việc tại Hoa Kỳ sau khi tốt nghiệp. Tỷ lệ giữ chân sinh viên quốc tế của Hoa Kỳ thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước công nghiệp khác. Ngay cả những sinh viên hoàn thành bằng đại học tại Hoa Kỳ cũng chỉ đủ điều kiện để sống và làm việc tại quốc gia này trong tối đa một năm, với tùy chọn gia hạn thêm hai năm cho những người làm việc trong lĩnh vực STEM.

Sau khi thời hạn này kết thúc, những người nhập cư muốn tiếp tục làm việc hợp pháp thường nộp đơn xin thị thực H1-B, một loại thị thực tạm thời cho phép người sử dụng lao động nộp đơn xin cấp phép làm việc cho những người nhập cư có trình độ đại học làm việc trong "chuyên nghành". Theo luật, có một giới hạn cứng là 85.000 thị thực H1-B mỗi năm (nhân viên tại các trường đại học, chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận được miễn giới hạn này). Giới hạn thị thực này thường đạt mức tối đa trong vài ngày đầu tiên của mỗi năm tài chính và do nhu cầu vượt xa nguồn cung, Hoa Kỳ sử dụng hệ thống xổ số để xác định ai có thể nộp đơn xin thị thực H1-B với các cơ quan di trú. Đối với năm tài chính 2025, cứ bốn người nộp đơn có một người có cơ hội được chọn.

Ngay cả những người xoay xở để có được thị thực lao động cũng không được đảm bảo tình trạng thường trú nhân, với chỉ 140.000 thẻ xanh dành cho người lao động nhập cư mỗi năm—một con số chưa được điều chỉnh kể từ khi Đạo luật Di trú năm 1990 được thông qua—và không quốc gia nào có thể chiếm hơn 7% số lượng thường trú nhân hợp pháp được tiếp nhận mỗi năm. Vào năm 2023, số lượng thẻ xanh của người lao động có tay nghề tồn đọng đã tăng lên 1,8 triệu trường hợp. Đến lượt mình, dòng thẻ xanh quanh co này lại thúc đẩy một số lượng lớn những cá nhân tài năng từ bỏ và rời khỏi đất nước để đến những vùng đất hiếu khách hơn.

CUỘC ĐUA ĐẾN CAO TRÀO

Nếu Hoa Kỳ muốn thành công trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về nhân tài, thì không có nhiều thời gian để lãng phí. Các quốc gia khác đã nhanh chóng săn đón những người lao động không thể (hoặc không muốn) định cư tại Hoa Kỳ. Tháng 6 năm ngoái, Canada đã công bố Chiến lược mới về Nhân tài Công nghệ, cấp giấy phép lao động ba năm cho tối đa 10.000 người có thị thực H1-B tại Hoa Kỳ đến Canada, cùng với giấy phép làm việc hoặc học tập cho các thành viên gia đình đi cùng. Chương trình đã tiếp cận 10.000 đơn đăng ký trong vòng chưa đầy 48 giờ. Về phần mình, Đức đã triển khai thị thực tìm việc làm, cấp phép nhập cảnh tạm thời cho người lao động nước ngoài để họ có thể tìm được việc làm.

Trong năm qua, chính quyền Biden đã thực hiện các bước khiêm tốn để đơn giản hóa quy trình xử lý cho những người lao động có tay nghề cao. Vào tháng 10 năm 2023, Bộ An ninh Nội địa đã công bố một số thay đổi đối với chương trình H1-B, bao gồm gia hạn thời gian gia hạn cho những sinh viên tốt nghiệp muốn ở lại Hoa Kỳ khi họ chuyển từ thị thực sinh viên sang thị thực làm việc. Chính quyền cũng đã ban hành một sắc lệnh hành pháp mở rộng cung cấp hướng dẫn để đơn giản hóa đơn xin thị thực và thời gian xử lý cho những người không phải công dân (Hoa Kỳ) có kinh nghiệm trong các công nghệ quan trọng và công nghệ mới.

Trong nhiều năm, đảng Dân chủ và Cộng hòa trên Đồi Capitol đã không muốn xem xét cải cách nhập cư có trình độ cao bên ngoài một giải pháp nhập cư toàn diện. Biden xứng đáng được ghi nhận vì đã thức tỉnh trước tình trạng thiếu hụt nhân tài của Hoa Kỳ. Nhưng lập trường thờ ơ của chính quyền ông không còn có thể duy trì được nữa. Bất kỳ giải pháp khả thi nào cũng sẽ đòi hỏi cả hai nhánh hành pháp và lập pháp cùng hành động.

Nếu các lãnh đạo quốc hội có thể phá vỡ thế bế tắc này, sẽ có rất nhiều trái chín để gặt hái. Để bắt đầu, Quốc hội có thể tăng hạn mức hàng năm cho thị thực H1-B. Đã có tiền lệ cho việc này. Vào những năm 1990, Quốc hội đã tạm thời tăng hạn mức hàng năm từ 65.000 lên 115.000 thị thực và sau đó là 195.000, khi Hoa Kỳ đang cố gắng tìm kiếm các lập trình viên máy tính để giải quyết "Lỗi thiên niên kỷ" đáng sợ, một lỗi máy tính mà các chuyên gia lo ngại có thể gây ra thảm họa vì mã gốc được hầu hết các máy tính sử dụng không thể xử lý các ngày sau ngày 31 tháng 12 năm 1999.

❝ Hoa Kỳ có nguy cơ mất đi khả năng thu hút nhân tài vô song của mình

Ngay cả khi số lượng thị thực tạm thời được tăng lên, xổ số H1-B vẫn còn những nhược điểm khác: nó tạo ra sự không chắc chắn đáng kể cho những người tìm việc và thiếu bất kỳ hình thức ưu tiên nào. Không có công ty tư nhân nào chịu  chọn ngẫu nhiên nhân viên tương lai của mình, và cũng không hợp lý khi chính phủ Hoa Kỳ làm như vậy khi tuyển dụng nhân viên của mình. Chính phủ Hoa Kỳ nên thiết lập một hệ thống ưu tiên những cá nhân làm việc trong các lĩnh vực hoặc sở hữu các kỹ năng có nhu cầu cao đặc biệt trong bất kỳ thời điểm nào, một hệ thống có thể thực hiện được nhờ sự phân tích dự đoán  tinh vi ngày càng tăng của công cụ trí tuệ nhân tạo AI.

Ngay cả khi không có hành động của quốc hội, nhánh hành pháp vẫn có thể cấp quyền làm việc tự động cho vợ/chồng của người lao động H1-B, những người hiện phải nộp đơn xin phép làm việc riêng tại Hoa Kỳ. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng 90 phần trăm vợ/chồng của người H1-B có ít nhất bằng cử nhân và một nửa số bằng cấp đó thuộc lĩnh vực STEM. Bộ An ninh Nội địa có thẩm quyền gia hạn ngay lập tức quyền làm việc cho vợ/chồng của người H1-B, một hành động mà họ có thể thực hiện nếu muốn.

Khi nói đến quyền thường trú, không có khả năng sẽ có nhiều mong muốn chính trị để tăng tổng số thẻ xanh. Tuy nhiên, dễ dàng hơn để hình dung một sự thay đổi sẽ làm giảm số lượng thẻ xanh liên quan đến đoàn tụ gia đình và tăng số lượng thẻ xanh liên quan đến công việc—một sự tái cân bằng sẽ tăng cường lợi ích quốc gia lớn hơn.

Một giải pháp tương đối đơn giản khác là cải cách hoặc xóa bỏ các giới hạn cụ thể theo quốc gia được tích hợp vào quy trình cấp thẻ xanh. Các số liệu thống kê do nhà kinh tế William Kerr biên soạn là không thể phủ nhận: Các nhà phát minh Trung Quốc và Ấn Độ mang lại 20% tổng số bằng sáng chế của Hoa Kỳ; khoảng một nửa số sinh viên quốc tế đến từ Trung Quốc và Ấn Độ và tập trung không cân xứng vào các lĩnh vực STEM; và những người nhập cư từ hai quốc gia này chiếm tám trong mười thị thực H1-B được cấp mỗi năm. Trước những con số này, và với việc Trung Quốc và Ấn Độ chiếm một phần ba dân số thế giới, việc giới hạn mỗi quốc gia ở mức 7% tổng số thẻ xanh hàng năm của Hoa Kỳ là không hợp lý.

Một ý tưởng khác đã được đề xuất là "thu hồi" các thẻ xanh chưa sử dụng, một động thái khác nằm trong phạm vi quản lý của cơ quan hành pháp. Vì lý do hành chính, tài chính hoặc các lý do khác, bao gồm cả sự chậm trễ trong thời kỳ đại dịch, đã có nhiều năm mà giới hạn thẻ xanh không được đáp ứng. Một số chuyên gia đã kêu gọi chính quyền thu hồi những thẻ xanh chưa sử dụng đó (hơn 200.000 thẻ), điều này sẽ giúp giải quyết ngay tình trạng tồn đọng. Đã có tiền lệ cho động thái này và điều tuyệt vời nhất là nó sẽ không đòi hỏi hành động lập pháp, mặc dù sự chấp thuận rõ ràng của quốc hội có thể mở rộng tổng số thẻ xanh chưa sử dụng được đưa trở lại lưu thông.

TRONG TẦM TAY

Trong nhiều thập kỷ qua, giới chính trị ở Washington đã bị ám ảnh bởi việc quản lý và kiểm soát nhập cư bất hợp pháp. Đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách dành sự quan tâm tương tự cho nhập cư hợp pháp—và đặc biệt là nhập cư có trình độ cao.

Cũng giống như có sự đồng thuận lưỡng đảng về chính sách bảo hộ công nghiệp giữa các chính trị gia, cũng có sự đồng thuận lưỡng đảng giữa các cử tri rằng Hoa Kỳ nên làm nhiều hơn nữa để khuyến khích nhập cư có trình độ cao; ba trong số bốn người trả lời trong cuộc khảo sát của Trung tâm Chính sách Lưỡng đảng vào tháng 12 năm 2022 đã ủng hộ việc mở rộng nhập cư có trình độ cao, bao gồm 68% đảng viên Cộng hòa, 74% cử tri độc lập và 85% đảng viên Dân chủ. Và trong quá khứ, các nhà lập pháp Dân chủ và Cộng hòa đã hợp tác để điều chỉnh các quy tắc nhập cư nhằm củng cố vị thế của Hoa Kỳ trong thời điểm căng thẳng địa chính trị và biến động công nghệ.

Hiện tại đang là thời điểm như vậy. Trong một thế giới toàn cầu hóa, những tài năng hàng đầu sẽ đầu quân cho người trả giá cao nhất. Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khả năng độc đáo của Hoa Kỳ trong việc thu hút lao động nhập cư đã tạo điều kiện cho đất nước này vươn lên thành một cường quốc sản xuất. Vào thế kỷ 21, việc duy trì vị thế thống trị về công nghệ sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải duy trì vị thế là điểm đến được lựa chọn cho những người lao động có tay nghề cao nhất. Tầm nhìn "Made in America" của lưỡng đảng có thể trở thành hiện thực, nhưng chỉ khi nó được xây dựng bằng cách khai thác tài năng của những người nhập cư.

DEVESH KAPUR là Giáo sư Nghiên cứu Nam Á của Starr Foundation | Johns Hopkins School

MILAN VAISHNAV là Nhà nghiên cứu cấp cao, Giám đốc Chương trình Nam Á | Carnegie Endowment for International Peace

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét